VNOB IN BRIEF

Vietnam National Opera and Ballet (VNOB) is a theatre belong to Vietnam Ministry of Cultural, Sports and Tourism. VNOB, established in 1959 in Hanoi, with large scale and profession, is leading theatre in performing classical art. Up to now, VNOB has made many cooperation programs of culture with many countries and regions through the Cultural Centers and funds, such as Russia, UK, USA, France, Germany, Australia and Sweden…Many master works have been performed as: Phoenix Eye, Musical Lucile, Paris Life, Love School, La Boheme, Dream and Reality, The Flying Dutchman, Romeo and Juliet, Ophee et Eurydiel, Venus, Francesca Dari Mimi, Firebird, Hearts Silk, The Rite of Spring, Lasylphide, Westside story…On the other side, many classical concerts have been performed successfully and attracted a huge audience.

Over the year, many young artists of VNOB have been sent to study in Australia, France, Sweden, USA… and acquired the new trends and styles of contemporary art. The project “art in school” has been attracting ten thousands of student to participate and is highly effective in orienting aesthetics with the young audiences as well attracting them to high – level art program.

THE PROGRESS OF ESTALISHMENT OF VNOB

TYPICAL ARTISTS IN GENERATIONS

  • Vietnam National Opera and Ballet (VNOB) was established in August 6, 1959 at the Cau Giay Art Sector, Hanoi.
  • On August 6, 1959, The National Symphony Orchestra was established with 114 musicians.
  • In 1961, VNOB’s Choir was established with 120 singers and named as Vietnam National Opera Symphony Orchestra.
  • In 1964, Ballet Theatre was established. Then the name of the theatre changed to Vietnam National Opera Ballet Symphony.
  • In 1985, The Symphony Orchestra was split to a new unit. Up to now, its was renamed the Vietnam National Opera Ballet.

After over 50 years of establishing and developing, VNOB performed many Symphonies, Opera and Ballet of the world and Vietnam with high quality, reaching and International Academy Standard.

  • Composers: Conductor – People’s Artist Quang Hai, Conductor – People’s Artist Trong Bang, Conductor – People’s Artist Tran Quy – Meritorious Artist Vu Luong – Meritorious Artist – Meritorious Artist Phu Quang, composer Nguyen Van Hiep, Musician – Nguyen Huu Hieu and some others.
  • The famous art directors: Meritorious Artist Van Ha, Meritorious Artist Vo Bai.
  • Choreographer: People’s Artist Group Long – Ly Thai People’s Artist Xuan Dinh People’s Artist – The People’s Artist Cong Nhac – People’s Artist Pham Anh Phuong…
  • The well-known artists: People’s Artist Bui Huy Hieu, Meritorious Artists Tran Mau. Particularly the class first pioneering artists such as People’s Artist Bui Gia Tuong, People’s Artist Trung Kien – Guiyang People’s Artist, Meritorious Artists Quang Hung, Meritorious Artists Bich Lien, Meritorious Artists Hoang My, Meritorious Artists Phan Phuc, Dau Ngoc Meritorious Artists, Artists Ton Triem, Meritorious Artists Manh Chung, Meritorious Artists Manh Tuan.
  • The Soloist: Meritorious Artists Khac Hue, Meritorious Artists Hoang My – Y Lang, composer Phu Quang, Ngo Lam, Thang Long, Vanh Khuyen, Xuan Cuong.
  • Artist of Ballet: Meritorious Artists Hong Linh, People’s Artist Kim Quy, People’s Artist Ha The Dung, Meritorious Artists Quynh Lien, Meritorious Artists Thuy Hanh, Meritorious Artists Le An, People’s Artist Kieu Ngan, Meritorious Artists Chuc Quynh, Meritorious Artists Luu Lan, Meritorious Artists Tuyet Dung, Meritorious Artists  Han Giang, Meritorious Artists Phan Luong, Meritorious Artists Nguyen Thi Can, Meritorious Artists Quynh Nga.

HONOUR ARTISTS

  • People’s Artist: 11
  • Meritorious Artists: 40
  • Masters degree: 2
  • Bachelor: 87
List of Emeritus Artists working in VNOB
  1. Trần Ly Ly
  2. Hà Mạnh Chung
  3. Lê Thị Vành Khuyên
  4. Hoàng Xuân Cường
  5. Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
  6. Trần Thị Bích Hường
  7. Nguyễn Thị Quỳnh Nga
  8. Nguyễn Thị Cần
  9. Phan Văn Lương
  10. Đàm Hàn Giang
  11. Trần Thị Tuyết Dung
huan-chuong-lao-dong-nha-hat-nhac-vu-kich-viet-nam
huan-chuong-doc-lap-nha-hat-nhac-vu-kich-viet-nam

ACHIEVEMENT REWARDS

  • Labor Medal Rank III in 1989
  • Labor Medal Rank II  in 1999
  • Labor Medal Rank I in 2009
  • Independence Medal Rank III in 2014

Dozens of staff and artists have been awarded Certificates of Merit, Commendation  of Merit by the Ministry of Culture, Sports and Tourism as well as other relevant branches and provinces.

History

1959-1974

Ngày 06/8/1959, Bộ Văn hóa quyết định thành lập Dàn nhạc Giao hưởng đánh dấu sự ra đời của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam sau này.

Ngày 05/6/1961, Dàn hợp xướng được thành lập khẳng định sự quan tâm đặc biệt, tính định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới bên cạnh việc phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.

Ngày 7/5/1964, Bộ Văn hóa quyết định thành lập Nhà hát Giao hưởng hợp xướng ca vũ kịch Việt Nam. Như vậy, ngoài các chương trình Hòa nhạc Giao hưởng, Hợp xướng biểu diễn độc lập còn có sự phối hợp giữa các ca sĩ và diễn viên múa để thực hiện các vở Nhạc kịch và các Vũ  kịch.

Dưới sự chỉ đạo của Vụ Văn hóa, Vụ Âm nhạc cũng như sự giúp đỡ của chuyên gia Triêu Tiên, dàn nhạc Giao hưởng và Dàn nhạc hợp xướng đã xây dựng các chương trình hòa nhạc có giá trị nghệ thuật cao, định hướng thẩm mỹ cho đông đảo tầng lớp nhân dân, góp phần khích lệ tinh thần hăng say lao động xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tiêu biểu như những tác phẩm: “Ru con”, “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó”, “Du kích sông Thao”, …Vở Nhạc kịch “Cô Thao của nhạc si Đỗ Nhuận là tác phẩm Nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam được dàn dựng đã thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng yêu nghệ thuật. Sau đó, các vở Nhạc kịch “Núi rừng hãy lên tiếng”, “Evghenhin”, “Bên bờ Kronf pa”, “Người tạc tượng” và các vở Vũ kịch “Chị Sứ’ơ, “Phá lao” lần lượt ra đời và đều gây được tiếng vang trong và ngoài nước.

Một trong những kỷ niệm sâu đậm nhất với những nghệ sĩ Nhà hát là đêm 10/9/1960 khi dàn nhạc dao hưởng biểu diễn chương trình Đại hội Đảng tại Công viên Bách Thảo, Bác Hồ kính yêu đã đến và đứng trên bục cầm đũa chỉ huy bắt nhịp bài “Kết đoàn là sức mạnh”, biểu dương ý chí triệu người như một quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng. Hình ảnh Bác Hồ  cầm cây đũa chỉ huy Dàn nhạc Giao hưởng của Nhà hát  mãi còn đọng lại trong trái tim, ký ức của những nghệ sĩ, cán bộ Dàn nhạc Giao hưởng và khán giả. Hình ảnh đó mãi có giá trị lịch sử và tinh thần, khích lệ sự nghiệp phát triển văn hóa nghệ thuật của nước nhà.

Vào những năm 1966-1967, khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ lan rộng ra miền Bắc, các đoàn nghệ thuật xung kích, các nghệ sĩ, cán bộ của Nhà hát đã không quản gian khổ, hi sinh, mang lời ca, tiếng hát phục vụ đồng bào, chiến sĩ ở các tỉnh miền Bắc. Với khí thế tất cả cho tiền tuyến, các đoàn nghệ thuật xung kích đã đi sâu vào tuyến lửa Vĩnh Linh. Đi dọc đường Trường Sơn để phục vụ các đơn vị bộ đội và đồng bào. Nhiều nghệ sĩ của Nhà hát đã được Chính phủ trao tặng Huân chương và Danh hiệu anh hùng, nhiều nghệ sĩ đã trưởng thành và được khán giả yêu mến như chỉ huy Dương Quang Thiện, Nguyễn Hữu Hiếu, Trần Quý, Đỗ Dũng, Trang Bằng, Nguyễn Hải..; Đạo diễn Võ Bài, họa sĩ Trần Mậu, Biên đạo múa Thái Ly, Đoàn Long, Hồng Linh…; Ca sĩ Quốc Hương, Tân Nhân, Quý Dương, Quang Hưng, Trung Kiên, Ngọc Dậu, Anh Đào, Thúy Hà, Kim Định, Bích Liên, Tâm Trừng.

1975-1986

Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải. Hòa trong niềm vui của đất nước, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng, Ca, Vũ Kịch được Bộ Văn hóa giao nhiệm vụ vào Sài Gòn biểu diễn mừng sự kiện trọng đại của đất nước. Những đêm biểu diễn của Nhà hát đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giả Sài Gòn.

Năm 1978, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng, Ca, Vũ, Kịch Việt Nam được đổi tên thành Nhà hát Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Có thể nói đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của Nhà hát. Niềm vui được sáng tạo nghệ thuật, được cống hiến cho nghệ thuật luôn là niềm thôi thúc các nghệ sĩ hăng say luyện tập, xây dựng các chương trình, kịch múa phục vụ khán giả. Các vở Nhạc kịch “Phidelio” của LV. Bettoven, “Tiếng hát xanh” của Nguyễn Đình Tấn, “Ruồi Trâu của Xpadavecski”, “Trương Chi” của An Thuyên được dàn dựng và biểu diễn rất thành công.

Vào những năm 1980, thực hiện hợp tác văn hóa giữa Việt Nam – Liên Xô với sự hỗ trợ hiệu quả của Bộ Văn hóa, nhiều vở Vũ kịch và Nhạc kịch kinh điển nổi tiếng trong kho tàng nghệ thuật thế giới đã được chuyên gia Liên Xô sang dàn dựng và công diễn thành công tại Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh như Kịch múa “Spatacus”, “Giselle”, “Hồ Thiên Nga”, “Chàng du đãng và cô tiểu thư”, “Faxto” và vở Nhạc kịch kinh điển  “Madame Butterfly”…Thông qua đó khẳng định tài năng và tên tuổi của nhiều nghệ sĩ như nghệ sĩ múa Kim Quy, Kiều Ngân, Thế Dũng, Lê Vân, Lê An, Thúy Hạnh, Văn Hải, Anh Quân, Minh Thông, nghệ sĩ hát Hoàng Hoa, Gia Hội, Gia Khánh…

Đặc biệt vào năm 1985, lần đầu tiên “Những ngày văn hóa Việt Nam tại Liên Xô, các nghệ sĩ của Nhà hát đã biểu diễn tại Nhà hát lớn Maxcova và các nước Cộng hòa Mondavia, Udebekistan, Arnrenia…đã lôi cuốn chinh phục khán giả Liên Xô bằng chính nghệ thuật bác học kinh điển đỉnh cao của Châu Âu.

Năm 1985, trước yêu cầu phát triển của Nghệ thuật Ballet và Opera để đáp ứng với sự hội nhập thế giới và phát triển đất nước, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam chính thức đổi tên thành Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam với chức năng biểu diễn loại hình nghệ thuật Nhạc kịch và Vũ Kịch.

Giai đoạn 1986-1995: Nỗ lực vượt qua khó khăn

Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới với rất nhiều khó khăn và thách thức. Vượt qua những khó khăn chung của đất nước và những khó khăn riêng trong lĩnh vực nghệ thuật như cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu thốn cả về con người và nhạc cụ, khán giả ít…Nhà hát vẫn nỗ lực xây dựng những chương trình nghệ thuật có chất lượng tốt, xây dựng Nhạc kịch “Tiếng hát Trương Chi”, “Vợ chồng A Phủ” của NSND Đoàn Long, “Huyền thoại mẹ” của Nguyễn Công Nhạc, “Huyền tích Trường Sơn” của Bằng Thịnh, xây dựng chương trình tham gia hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc, chương trình chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…Bên cạnh đó các chương trình ca múa nhạc được dàn dựng và biểu diễn tại các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình Định…đều được giới chuyên môn và nhân dân nồng nhiệt chào đón.

1996 đến nay

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc trên con đường phát triển loại hình Vũ Kịch, Nhạc kịch và Dàn nhạc Giao hưởng đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nhà hát luôn chú trọng và tăng cường sự hợp tác với chuyên gia nước ngoài để nâng cao chất lượng nghệ thuật cho từng đêm diễn. Liên tục từ năm 1996 đến nay có rất nhiều biên đạo, chỉ huy, nghệ sĩ nước ngoài đã đến làm việc cùng 3 đoàn chuyên môn của Nhà hát. Sự hợp tác này đã làm phong phú hơn các chương trình nghệ thuật, nâng cao trình độ biểu diễn, trình độ kỹ thuật cho diễn viên. Đồng thời thông qua đó Nhà hát học hỏi được nhiều kinh nghiệm về công tác phát triển nghệ thuật bác học tại Việt Nam, công tác quảng bá hình ảnh, kỹ năng sáng tác các tác phẩm…tiêu biểu như sự hợp tác với Lescape tại Hà Nội; Quỹ Sida Thụy Điển, Viện Gothe, Biên đạo người Úc Chery Stock cùng nhiều biên đạo của Anh, Mỹ, Pháp, Nga…Những tác phẩm như  “Em người phụ nữ Việt Nam”, “Qua miền đất lạ”, “Mắt phượng hoàng”, Vở Nhạc kịch  “Lucile”, “Cuộc sống Paris”, “Trường học tình yêu”, “Labohem”, “Giấc mơ và hiện thực”, Đêm opera “Người Hà Lan bay”, Vũ kịch “Romeo và Juliet”, “Điệu múa gió mùa”, “Kẹp hạt dẻ”, “Viên đạn thần”, “Opee et Eurydiel”, “Thần Vệ Nữ”, “Franceska Draimimi”, “Chim lửa”, “Trái tim tơ lụa”, “Mùa xuân thiêng liêng”, “LaSylphide”, “Whocare”, “Câu chuyện miền Tây” và nhiều chương trình Giao hưởng thính phòng như Carmina Burana, giao hưởng số 9…chính là kết quả tốt đẹp của sự hợp tác hữu nghị đó.

Đặc biệt bắt nhịp cùng trào lưu của nghệ thuật múa thế giới, Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam là một trong những cái nôi tiếp nhận  và phát triển múa Hiện đại ở Việt Nam. Những năm qua, nhiều nghệ sĩ trẻ của Nhà hát đã được cử đi học tại Pháp, Úc, Thụy Điển, Mỹ…Họ là những nhịp cầu đưa múa hiện đại ngày càng đến gần hơn với công chúng. Bằng tri thức, kinh nghiệm và vốn sống, không ít nghệ sĩ của Nhà hát đã thành công trong xây dưng những tác phẩm múa đương đai mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam như tác phẩm “Hồn Trương Chi”, “Nguồn sáng”, “Trường Tương tư”, “, “Mùa đom đóm”…

Những thành công của Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam trong giai đoạn này đánh dấu bước phát triển của loại hình nghệ thuật bác học Nhạc Vũ Kịch, có đóng góp nhất định vào quá trình xây dựng nền Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Dự án nghệ thuật học đường “Khám phá âm nhạc và múa” của Nhà hát thu hút hàng chục nghìn học sinh, sinh viên tham gia được đánh giá là dự án có hiệu quả cao trong việc hướng dẫn thẩm mỹ loại hình nghệ thuật bác học tới khán giả.

Nhìn lại chặng đường 50 năm đã đi qua, một chặng đường dài với biết bao gian nan, vất vả. Những thế hệ nghệ sĩ của Nhà hát luôn tiếp nối truyền thống, sát cánh bên nhau, cống hiến cho sự nghiệp văn hóa. Ghi nhận sự cống hiến cho văn hóa nghệ thuật nước nhà đã có nhiều nghệ sĩ của Nhà hát được phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT . Huân chương Lao động hạng Ba năm 1990, Huân chương lao động hạng Nhì năm 1999, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2008 và Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2015.

ORGANIZATIONAL STRUCTURE

Total number  of staff and actors:

  • Full time employee: 125 persons
  • Contractual employee: 45 persons
  • Number of staff, actors, employees who were retired: 146 persons
  • Freelance: 25

Structure

  • Board of Directors: 2 persons
  • Performance Technique Department: 6
  • General Administration: 13
  • Performance Organizing Department: 9
  • Ballet Group: 23
  • Opera: 16
  • Orchestra: 37

ART ACTIVITIES:

Ballet – Opera – Symphony & chamber music. There are also the opera excerpts, dance drama and other general programs

Management

VNOB Management Board through stages

Director Board

From 1959-1965 Director Trương Quang Thiện Vice Director: Văn Đông
From 1965-1970 Director Phạm Ngọc Lê Vice Director Mai Văn Chung
Vice Director Lương Văn Trọng
From 1971-1975 Director Quang Hải Vice Director Nguyễn Trọng Bằng
Vice Director Phạm Phúc Minh
Vice Director Phan Tất Thông
From 1976-1978 Director Phạm Phúc Minh Vice Director Nguyễn Trọng Bằng
From 1978-1980 Director Phạm Ngọc Lê Vice Director Nguyễn Quang Giáp
Vice Director Phan Tất Thông
Vice Director Cao Bá Cương
Vice Director Đỗ Dũng
From 1980-1989 Director Đoàn Long Vice Director Lê Văn Hà
Vice Director Nguyễn Quang Giáp
From 1990-1991 Director Nguyễn Trung Kiên Vice Director Hoàng Trung Nam
From 1992-1994 Director Bùi Gia Tường Vice Director Hoàng Xuân Nam
Vice Director Nguyễn Công Nhạc
From 1994-1997 Director Phạm Quý Dương Vice Director Hoàng Xuân Nam
Vice Director Nguyễn Công Nhạc
From 1998-2007 Director Nguyễn Công Nhạc Vice Director Hoàng Đình Bắc

Vice Director Nguyễn Anh Phương

From 2018 -now Director Trần Ly Ly Vice Director: Đỗ Phương

Communist Party Secrectariat

Dương Quang Thiện Secrectary
Trần Gia Quế  Secrectary
Mai Văn Chung  Secrectary
Lương Văn Trọng  Secrectary
Phạm Ngọc Lê  Secrectary
Cao Bá Cương  Secrectary
Nguyễn Quang Giáp  Secrectary
Đoàn Long  Secrectary
Hoàng Đình Bắc  Secrectary
Nguyễn Công Nhạc  Secrectary
Hà Mạnh Chung Gen. Secrectary
Phạm Anh Phương Gen. Secrectary
NSND-Nguyen-Cong-Nhac-Nha-hat-ca-vu-kich-Viet-Nam